Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016

NÉN NHANG NGÀY XUÂN

Nén nhang ngày xuân

Cây nhang được xem như một sợi dây thiêng liêng nối liền giữa cuộc sống con người và ông bà tổ tiên, thần thánh, đất trời, qua những làn khói hương cuộn tròn của nó, phảng phất, rồi tan dần trong không gian.

Từ khi người con người tìm ra lửa và biết cách sử dụng nó trong cuộc sống, thì cây nhang cũng là một trong những phát minh từ cách biết dùng lửa mà ra.
Lửa là yếu tố quan trọng gắn liền với con người từ lúc chào đời cho đến ngày chết. Lửa là sức mạnh, sáng tạo giúp cho con người có khả năng sinh tồn, và cũng là hủy diệt lớn nhất trên đời không ai có thể ngăn chặn nổi.
Lửa theo định nghĩa thông thường là sự cháy của phản ứng hóa học, mang đặc tính tỏa nhiệt và phát ra ánh sáng. Muốn có lửa nếu thì phải cần 3 yếu tố sau: Hai hợp chất hóa học đó là nhiên liệu và các chất ôxy hóa, cộng thêm một nguồn năng lượng kích hoạt. Công thức dễ nhớ: Nhiên liệu + Oxy + Năng nhiệt = Lửa.
Lửa do người Homo erectus tìm cách đây khoảng 450.000 năm về trước và cũng là một bước ngoặt trong thời tiền sử, để phân biệt con người với các loài động vật khác.
Khói là một đám mây của các hạt rắn ở trạng thái khí phát ra khi các vật liệu bị đốt. Khi vật càng khô thì độ cháy càng nhanh, sanh ra ít khói và khi độ ẩm của vật càng cao thì sức cháy càng chậm, tạo ra khói nhiều. Những chất rắn của khói ở dạng bột nên màu sắc của khói có các loại khác nhau.
Hương là những tinh dầu có mùi thơm, dễ bay hơi, có nguồn gốc từ lá, vỏ cây, rễ, hạt nhựa và hoa. Trong tiếng pháp cổ chữ "per fumar" và chữ đồng nghĩa với bây giờ của nó là "par fumer", có gốc từ chữ "fumum"của tiếng Latin. Nghĩa đen của chữ "fumum", là gây mùi bằng khói.
Từ cách biết đốt cây lấy khói để làm sạch, khử trùng không gian và đã được đồng nghĩa với chữ "thanh lọc", cho mục đích tôn giáo và vệ sinh của những người dân miền trung đồng thời cổ, mà người Pháp đã biết khai thác khái niệm này trong việc sáng tạo ra chữ "parfum", nước hoa của họ.
Việc dùng khói xông hương khử trùng chắc chắn không phải là phương pháp duy nhất của một quốc gia nào trên thế giới. Nếu ai muốn tìm hiểu về chủ nhân của cây nhang hay nghi thức dùng nhang, thì nên đi sâu vào nền văn hóa của từng nước, sau đó rồi so sánh chi tiết theo chi tiết.
Trong tiếng Latin "Incensus", có nghĩa là gây ra cảm xúc, trở thành thức tỉnh. Chữ "Incensus" thuộc dạng trung tính, xuất nguồn từ chữ "Incendĕre" và "incendĕre" là nguyên mẫu của động từ "Incendo". Incendo có những nghĩa được biết như sau: Đốt, làm cháy, làm thành tro… "Incensus", tiếng Việt dịch là Hương. Khi chưa đốt gọi là Nhang, khi đốt lên thì gọi là Hương.
Chữ Hương viết theo chữ Hán: 香. Hương (香) là bộ mang số 186 trong 214 bộ thủ của Từ điễn Hán Việt. Bộ Hương (香) nghĩa là thơm, bên trên viết bộ Hòa (禾cây lúa), bên dưới viết bộ Cam (甘ngọt ngào). Hương (香) có những nghĩa như sau: Hơi thơm. Phàm thứ cây cỏ nào có chất thơm đều gọi là hương. Lời khen lao.
Những vật liệu dùng làm nhang để đốt được gọi là hương liệu. Hương liệu là những tinh chất được lấy ra từ các chất của thực vật có mùi thơm, dùng để tỏa ra khói có mùi thơm khi cháy. Nhang có nhiều dạng, nhiều mùi khác nhau tùy theo những nhà sản xuất.
Nhang được sử dụng trong ngày rằm, ngày lễ, tết. Khói hương của cây nhang có thể giúp: Thanh lọc không khí, làm giảm lo âu, căng thẳng, sợ hãi...
Cây nhang ngày Tết trên bàn thờ tổ tiên là điều không thể thiếu được trong tâm hồn của người con Xứ Việt. Tuy nguồn gốc thắp nhang chưa có tài liệu nào ghi chép rõ ràng nhưng sự hiện diện của cây nhang đã trở thành một vai trò quan trọng trong các nghi lễ tôn giáo.
Nén hương thơm dâng đất trời, mỗi khi Tết đến, Xuân về là sự cầu chúc hạnh phúc bình an trong năm mới cho gia đình và cũng là dịp tưởng nhớ đến ông bà, cha mẹ, những người thân yêu đã mất.Thắp nhang hay dâng hương là một tập tục đã có từ lâu trong nếp sống sinh hoạt tâm linh và văn hóa của người Việt.
Để cho bầu không khí của những ngày xuân thêm ấm áp và mọi người cảm thấy ấm lòng hơn, thì còn phải chờ gì nữa mà không đốt…
Kính bút
TS Huệ Dân

LUẬN VỀ CHỮ "NHẪN"

Suy ngẫm về chữ Nhẫn

Tư tưởng Nhẫn là kim chỉ nam trong phương pháp tu tập và định hướng hành đạo của Phật tử, kể cả xuất gia và tại gia. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập đến chữ Nhẫn, ngõ hầu bạn đọc cùng suy ngẫm nhân ngày Xuân mới.

Hàm ý của chữ Nhẫn
Chữ 忍 phiên âm Hán - Việt là Nhẫn, được cấu thành bởi bộ Tâm và bộ Đao. Theo nghĩa thông thường, Nhẫn là sự nhịn, sự nín và là sự chịu đựng. Với ý nghĩa này thì chữ Nhẫn đối trị lại sự nóng giận, oán thù và sự vô minh. Như vậy, chữ Nhẫn ở đây bao hàm sự chịu đựng trước những hoàn cảnh bất lợi khác nhau. Thấm nhuần ý nghĩa này thì mỗi con người sẽ tự giác ngộ cho mình một phương pháp giải quyết hài hoà những vấn đề phát sinh trong cuộc sống.
Muốn thấm nhuần và vận dụng được đạo của chữ Nhẫn, thì mỗi người phải hành trì trên ba phương diện là: thân nhẫn, khẩu nhẫn và ý nhẫn.
Thân nhẫn là thực hành chữ Nhẫn trên phương diện hành động. Trong cuộc sống mưu sinh của mỗi người luôn phải đối mặt với những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, phát triển và suy thoái, khách quan và chủ quan… Tất cả những yếu tố này luôn đan xen nhau và tồn tại trong một chủ thể. Hiểu được ý nghĩa của thân nhẫn sẽ giúp cho mỗi người có những việc làm phù hợp, kể cả có những lúc chấp nhận và hy sinh tạm thời để có thể đạt được những thành tựu to lớn hơn.
Khẩu nhẫn là thực hành chữ Nhẫn trên phương diện lời nói. Chức vụ càng lớn, vị trí càng cao trong xã hội, thì mỗi lời nói càng quan trọng. Vậy nên, dân gian vẫn thường nói: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
Như vậy, người thực hành khẩu nhẫn là phải thận trọng khi phát ngôn, nếu gặp phải những lời nói thêu dệt, nói không thật, lời nói hai chiều của người khác, thì mỗi người cần chủ động bình tâm suy ngẫm để không dẫn đến khẩu chiến trong công việc, trong cuộc sống hàng ngày. Bởi điều này sẽ làm tổn hại đến sự an lạc trong tâm thức và đốt cháy trí tuệ có trong mỗi người.
Ý nhẫn là thực hành chữ Nhẫn trên phương diện tư duy và nhận thức của con người. Tư duy và nhận thức của con người luôn là những yếu tố căn bản tạo nên sự thành bại của mỗi công việc. Nếu con người có trí tuệ, có sự am hiểu tường tận mỗi việc làm và thận trọng trong giải quyết, phân tích đúng nguyên nhân khách quan, chủ quan thì sẽ thành công.
Học đạo chữ Nhẫn
Chữ Nhẫn có công năng đối trị cái tham, cái sân hận và sự vô minh dốt nát tiềm tàng trong mỗi con người. Đối với cá nhân, nếu mỗi chúng ta hiểu đúng và thực hành đúng ý nghĩa của chữ Nhẫn, thì bản thân mỗi người sẽ nhận được sự cảm mến của cộng sự xung quanh, lấy lời nói yêu thương sẻ chia, chân thành làm cách ứng xử với mọi người, tác phong nghiêm trang, uy đức được tôn kính.
Ở phương diện gia đình, mỗi thành viên trong gia đình biết kính trên nhường dưới, gia đình hiếu thuận, luân lý đạo đức được tôn nghiêm, bổn phận trách nhiệm của các thành viên gia đình được tôn vinh.
Đối với xã hội, hiểu và thực hành đúng chữ Nhẫn sẽ giúp cho xã hội ngày một đoàn kết, hợp tác chia sẻ và hòa bình trên cơ sở lợi ích chung.
Năm 2011, những diễn biến khó lường của sự suy giảm nền kinh tế thế giới đã và đang tác động nhiều chiều đến đời sống kinh tế - xã hội trong nước, đến đời sống tâm lý của một bộ phận người dân. Để vượt qua những khó khăn này, đòi hỏi sự nỗ lực của không chỉ các cấp quản lý, mà cần sự hợp sức tận tâm, tận lực của đội ngũ doanh nhân đang trực tiếp quản trị, lãnh đạo DN, nhằm sớm vực dậy nền kinh tế đất nước nói chung và sự phát triển bền vững trở lại của các DN nói riêng.
Hiểu và hành trì chữ Nhẫn thành công, mỗi chúng ta sẽ biết cách vượt qua được những thách thức và trở ngại hiện tại. Lý do là bởi chữ Nhẫn hoá giải tường tận quy luật phát triển và suy giảm là một hiện tượng mang tính khách quan, xuất phát trong nội tại của mỗi sự vật hiện tượng, chứ không phải là ngoại lệ với nền kinh tế, kể cả TTCK.
Trong giáo lý nhà Phật, khi tiếp cận vấn đề này thường được gọi là “sự vô thường” và vận hành theo quy luật Thành - Trụ - Hoại - Không. Nói như vậy để mỗi chúng ta thấy rằng, sự vận động của nền kinh tế, của vòng đời DN, của TTCK có những lúc nghịch, lúc thuận là hoàn toàn bình thường. Như vậy, mỗi người cần có đức tin và kiên trì nhẫn nại để hành trì chữ Nhẫn, nhằm tự tin giải quyết hiệu quả những khó khăn trở ngại.
Đại đức Thích Minh Tiến

CÂY ME OAN HỒN - BÌNH ĐỊNH

Bình Định: Ớn lạnh “cây me oan hồn” gieo rắc nhiều vận đen

Lỡ “rước” phải cây me từng có người treo cổ tự tử về trồng trong khuôn viên cơ quan, kể từ đó cứ mỗi khi tại Trung tâm y tế huyện Phù Mỹ (tỉnh Bình Định) lỡ xảy ra chuyện gì không hay là người ta lại đổ lỗi cho “cây me oan hồn gieo rắc đen đủi”.

“Hồn cây” gieo tai ương?
Cách đây khoảng 3 năm, trong thời kỳ phong trào săn tìm cây cảnh đại thụ của các “đại gia” đang cực thịnh thì cây me cổ thụ có dáng dấp rất đẹp trong vườn của một cán bộ công an huyện này bỗng dưng được nhiều người “dòm ngó”. Hết đại gia đến “cò” cây cảnh kéo đến ai cũng muốn nó sẽ thuộc về mình nên “thổi” giá cây me lên trời.
Thế nhưng đùng một cái, người ta lại phát hiện ra rằng cách đây hơn chục năm, tại cây me này đã có một thanh niên ngoài 30 tuổi vì buồn chuyện gia đình nên đã treo cổ tự tử dưới cành me. Nghe thấy “thông số kỹ thuật” này thì tất cả những người có ý định mua cây đã lần lượt “ra đi không một lời từ biệt”. Người ác miệng khi đó còn được dịp chê bai: “Ấy, cũng do cây me này mang đen đủi nên gia chủ đã nhiều lần mời thầy cao tay về cầu cúng nhưng gia đình này vẫn không tránh khỏi làm ăn lụi bại, tán gia bại sản rồi phải bỏ xứ ra đi, để lại khu vườn hoang vắng và cây me cổ thụ chẳng ai còn dám đoái hoài”.
Ấy vậy nhưng không biết “trời xui đất khiến” thế nào, một lãnh đạo Trung tâm y tế huyện Phù Mỹ dù là người ở địa phương nhưng lại không hề hay biết về điều này nên đã tìm đến ngã giá mua cây me về trồng. Ban đầu khi mới mua được cây me “độc” với giá chỉ năm triệu đồng, ông bác sĩ này mừng thầm nghĩ rằng mình đã “vớ bở”. Nhưng không ngờ khi cây me được mang về đến nhà, nhiều người đến trầm trồ ngắm nghía, hỏi vài câu thì mới trật ề: “Đây chính là cây me có người treo cổ tự tử”.
Bị vố đau nhưng cũng đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”, vì không dám trồng cây có người treo cổ trong vườn nhà nên vị bác sĩ này hấp tấp đem “cây me quý” “biếu không” cho cơ quan rồi sai người trồng trước sân Trung tâm y tế Phù Mỹ.
Nhiều người cho rằng từ khi “cây me đen đủi” được đem về bệnh viện trồng, ở đây tự nhiên xuất hiện một số “hiện tượng lạ”. Trường hợp những người thợ xây thi công công trình trong bệnh viện cho rằng cứ tối đến, khi nằm ngủ họ thường bị ai đó níu chân là một ví dụ. “Lúc đầu cứ nghĩ là có ai đó đùa giỡn, nhưng sáng dậy kể thì gần như ai cũng bị tình trạng đó nên mới hoảng hồn mua nhang khói về khấn vái”, một người thuật lại.
Đường vào cổng bệnh viện vốn thẳng tắp dự tính sẽ bị bẻ cho “hợp phong thủy”
Khấn vái mà vẫn chưa được yên, vài đêm sau đó, khi tốp thợ này đang ngủ thì bất ngờ một mảng tường đổ xuống người khiến người gãy chân, kẻ gãy tay... nhưng “trong cái rủi vẫn có cái may” vì “chỉ khênh người bị nạn đi vài bước chân là đến phòng cấp cứu”. Vẫn chưa hết, vài bữa nữa lại một công nhân khác khi đang leo lên xây tường bỗng nhiên rơi xuống đất gãy xương, chấn thương khắp người và trong vụ này thì viện huyện “bó tay” mà nạn nhân phải được đưa lên bệnh viện tuyến trên chữa trị. “Quá tam ba bận”, một số công nhân đang thi công tại bệnh viện hoảng sợ, xin ứng lương rồi “một đi không trở lại”.
“Ma ám” hay… người ám?
Đó mới chỉ là những tai họa khởi đầu. Từ khi đem cây me về trồng, 3 năm nay tại bệnh viện đa khoa hạng 3 với 140 giường bệnh này liên tục xảy ra không biết bao nhiêu tai ương, từ bệnh nhân chết, người nhà bệnh nhân kiện tụng tứ tung, đến những “chuyện đen đủi” khác liên tục ập xuống trung tâm.
Không dám bứng cây me đi chỗ khác vì sợ “thần cây” “báo oán”, người dân trong khu vực không khỏi tức cười khi thấy trung tâm này tìm cách “giải trừ” để “sống chung với lũ”. Nhiều buổi sáng người ta thấy nhiều bó hương thắp dở còn cắm lại gốc me, nhiều lần những người buôn bán phía trước bệnh viện còn thấy bóng dáng người của bệnh viện lúi húi trước gốc cây cúng bái. Một nhân viên trong bệnh viện đề nghị được giấu tên cho biết, để tránh tiếng nhiều đêm lãnh đạo bệnh viện đã mời “thầy” về cúng bái bên gốc cây me và trong phòng làm việc của mình để “hóa giải oan hồn”.
Cây me “oan hồn” trong khuôn viên Trung tâm y tế Phù Mỹ
Để tìm hiểu sự việc, phóng viên đã liên hệ với một lãnh đạo của cơ quan này và được ông cho biết: “Đúng là cách đây mấy năm bệnh viện có đem về một cây me trồng làm cảnh nhưng trồng rồi mới phát hiện ra trước đó cây me này có người treo cổ chết. Hoảng quá nhưng không ai dám đứng ra nhận trách nhiệm “giải quyết” nên hiện cây vẫn mọc trong sân bệnh viện. Khi bệnh viện liên tục gặp chuyện, nghe nhiều người đổn thổi nên một vài vị trong ban giám đốc đã nhiều lần mời “thầy” về cúng bái”.
Cúng rồi nhưng vẫn chưa yên tâm nên người ta vẫn phải ngược xuôi nhiều nơi mong tìm “thầy cao tay ấn hơn” để hóa giải. Không biết mới đây được “cao nhân” nào “hé lộ thiên cơ” nên lãnh đạo bệnh viện tức tốc bàn chuyện xây tường, bít ngõ, xây lại cổng chính của bệnh viện cho… hợp phong thủy.
Ý tưởng “động trời” này vấp ngay phải sự phản ứng quyết liệt của nhiều người vì từ bao đời nay đường vào cổng bệnh viện vốn đã ngay hàng thẳng lối, rộng rãi là thế, nay nếu trổ ngoặt sang bên hông sẽ khiến con đường này trở nên vòng vèo, mất thẩm mỹ. Hay tin, mấy người buôn thúng bán mẹt, bao năm trời đã “ăn theo” bệnh viện phản đối quyết liệt nhất vì theo họ nếu bệnh viện “ngăn sông cấm chợ” kiểu này thì họ sẽ “tiệt đường mưu sinh”.
Một người nhà có bệnh nhân thiệt mạng khi điều trị tại bệnh viện này thì bức xúc: "Không xem xét lại y đức, không tự nhận thấy những sai sót với bệnh nhân chính là do tinh thần làm việc thiếu trách nhiệm và kém chuyên môn gây ra, một số y bác sĩ của Trung tâm này lại dựa vào việc cúng bái cây me để trốn tránh trách nhiệm. Làm gì có cây me oan hồn nào ám người? Chỉ có người ám người thôi".
Trong thời gian vài năm gần đây, tại Trung tâm y tế này đã có đến hàng chục bệnh nhân qua đời nghi vấn vì chuyên môn y bác sĩ kém khiến người nhà bệnh nhân vô cùng bức xúc. Trường hợp mới đây nhất là một cháu bé 10 tuổi nhập viện lúc 4 giờ sáng, các bác sĩ chẩn đoán cháu bị viêm họng cấp, nhưng sau 8 tiếng đồng hồ không được quan tâm thì bệnh nhi đã tắt thở. Còn có trường hợp bệnh nhân nhập viện trong tình trạng khá nghiêm trọng nhưng không biết “trời xui đất khiến” thế nào các bác sĩ ở đây bỗng nhiên chểnh mảng lạ thường, như khi phát hiện bệnh nhân đã chết lâm sàng mới hớt hải cho chuyển lên tuyến trên. Rất nhiều đơn kiện Trung tâm làm chết bệnh nhân đã được người nhà gửi đến các cấp chính quyền. Đầu năm 2011, sau khi nhận được đơn thư tố cáo sai phạm, cơ quan chức năng đã vào cuộc và kết luận tại Trung tâm y tế Phù Mỹ có nhiều sai phạm kéo dài. Tập thể Ban thường vụ Đảng ủy Trung tâm bị kỷ luật khiển trách. Giám đốc Trung tâm bị kỷ luật cảnh cáo và đề nghị thuyên chuyển công tác do có nhiều sai phạm.
Theo Thảo Am - PL&TĐ

TUỲ DUYÊN

Tùy duyên

Bình thản trước tất cả mọi biến động của cuộc đời, bất chấp tất cả sóng to gió lớn, thắng không kiêu, bại không nản, mới khiến bạn đạt được thành công thực sự.

Trong ngôi chùa nọ có một hòa thượng và một chú tiểu cùng tu. Một buổi sáng, hòa thượng đưa cho chú tiểu một nắm hạt giống hoa, bảo đem trồng trong vườn chùa. Chú tiểu vâng lời cầm nắm hạt đi nhưng không may vấp chân vào bậu cửa, chú ngã sõng soài, nắm hạt rơi vung vãi trên mặt đất. Thấy chú tiểu cuống lên, hòa thượng ngồi trong phòng chỉ nói: “Tùy ngộ”.
Chú tiểu vội vàng đi lấy chổi quét hạt giống hoa, không ngờ một cơn gió bỗng nổi lên, thổi tung tất cả số hạt giống ra vườn. Hòa thượng liền nói: “Tùy duyên”. Dầu vậy, chú tiểu vẫn lo không làm được việc thầy giao, bèn cố gắng gom lại số hạt rơi vãi trong vườn. Ai ngờ lúc ấy trời đổ cơn mưa. Chú tiểu chạy vào phòng thầy khóc ầm lên, nhưng hòa thượng chỉ mỉm cười, nói: “Tùy an”. Xuân qua hạ tới, một sớm mai thức dậy, chú tiểu bất ngờ thấy vườn sau chùa nở đầy hoa, liền sấp sấp ngửa ngửa vào báo cho thầy biết. Hòa thượng gật đầu: “Tùy hỷ”.

Tùy ngộ, tùy duyên, tùy an, tùy hỷ là 4 trạng thái tiêu biểu cho cuộc sống con người, song lại không nhiều người hiểu một cách cặn kẽ “tùy ngộ mà an” (tùy theo hoàn cảnh, thỏa mãn với bất kỳ hoàn cảnh nào). Khi bỏ qua mất một cơ hội chỉ còn cách gang tấc, bạn có dám nói “tùy duyên” hay không? Bình thản trước tất cả mọi biến động của cuộc đời, bất chấp tất cả sóng to gió lớn, thắng không kiêu, bại không nản, mới khiến bạn đạt được thành công thực sự.
Theo Hạ Liên - ANTĐ

BÀI THUỐC HAY DÂN GIAN - CÂY NGÃI TÍM

Bất ngờ vì cây ngải tím trị thương cực kỳ hiệu quả

Từ kinh nghiệm chính bản thân mình cộng với hàng chục năm ứng dụng thực tế, lương y Nguyễn Văn Hướng (69 tuổi, ngụ đường Nguyễn Khoa Chiêm, phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế) khẳng định cây thuốc nam ngải tím có công dụng trị thương rất hiệu nghiệm, đặc biệt là chức năng “hoá nùng sinh cơ”, tức tạo da non thay thế phần da thịt bị hoại tử.

Hàn gắn vết thương
Ngải tím còn có tên là Nga truật, theo sách y học cổ, loài cây này có tính vị cay, nóng, ấm. Về công năng, ngải tím được biết đến là vị thuốc phá huyết hành khí cực kì hiệu quả. Lương y Hướng cho biết các thầy thuốc đông y từ xưa thường dùng ngải tím để chữa trị nhiều chứng bệnh như: Khí huyết ngưng trệ; đau bụng đầy trướng; bệnh máu đông thành hòn, cục (Trong đông y gọi chung là nhóm bệnh do “trần hà tích tụ”).
Công năng “tuyệt diệu” của ngải tím còn là tác dụng trị thương, sinh da non. Cách thức áp dụng để chữa bệnh như sau: Dùng củ ngải tím còn tươi, đem mài nhỏ hoặc giã mịn rồi đắp kín vào vết thương. Thậm chí khi vết thương đã nhiễm trùng nặng vẫn có thể dùng bài thuốc này để chữa trị. “Đắp thuốc xong nhớ dùng vải thưa buộc vừa chặt, đắp thuốc từ sáng đến chiều lại thay mới. Khi đắp thuốc vào sẽ gây cảm giác đau nhức như gà mổ, khí nóng toả ra từ vết thương nhưng đó chính là dấu hiệu khả quan”, vị lương y thuộc nằm lòng cách bào chế thuốc.
Trình bày tiếp về công năng của cây, thầy thuốc Hướng cho biết những tinh chất trong củ ngải sẽ hút toàn bộ mủ, máu độc và phần thịt đã hoại tử ra khỏi cơ thể người bệnh. Đồng thời củ ngải tím có tác dụng kích thích quá trình sinh cơ tạo da non: “Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của vết thương mà quá trình đắp thuốc dài hoặc ngắn. Tuy nhiên chỉ sau vài lần đắp thuốc, bệnh nhân sẽ thấy bớt đau nhức, da không còn thâm tím và tiêu mủ rõ rệt”.
Điều cần lưu ý là củ ngải tím phải sử dụng ở dạng tươi và tuyệt đối không áp dụng trị thương cho phụ nữ mang thai bởi công năng phá huyết của cây cực mạnh. Trong quá trình dùng thuốc trị liệu, người bệnh cần kiêng tránh những thức ăn sinh mủ. Nét ưu việt nữa trong chữa bệnh của cây ngải tím như lời lương y Hướng là tuyệt đối không để lại thẹo (sẹo) sau khi vết thương lành.
Cây ngải tím
Cổ nhân ngày trước vẫn ứng dụng củ ngải để chữa trị chứng cảm cúm sơ phát bằng cách ăn tươi. Ông Hương chia sẻ kinh nghiệm: “Trong thời gian lên vùng đồng bào thiểu số tìm hiểu cây thuốc, tôi biết được phụ nữ vùng cao sau khi sinh thường ăn củ ngải tím phòng bệnh. Những người lặn lội vào chốn rừng thiêng nước độc tìm trầm, đãi vàng không bao giờ quên ngậm củ ngải nhằm phòng trừ khí độc, bởi thế dân gian mới có câu “ngậm ngải tìm trầm””.
Bên cạnh cách dùng tươi, người bệnh có thể tự bào chế bài thuốc từ củ ngải tím và dấm dùng chữa trị nhóm bệnh “trần hà tích tụ” (Các bệnh máu vón thành cục, sán khí, bệnh chảy máu dạ con ở phụ nữ sau khi sinh nở - PV). Theo đó, thái mỏng củ ngải tím đem phơi hoặc sao khô, sau đó tẩm bằng dấm vừa đủ ướt: “Mỗi lần dùng 12g thuốc sắc uống, chú ý uống thuốc tốt nhất lúc lưng chừng bụng, tức là không đói cũng không no, để có hiệu quả tốt nhất”. Giải thích tại sao kết hợp vị dấm, lương y Hướng cho hay phần lớn các bệnh do “trần hà tích tụ” đều xuất phát từ gan. Mặt khác dấm có vị chua sẽ làm “nhiệm vụ” đưa thuốc vào gan, từ đó bệnh mới lành dứt điểm.
Đặc biệt đối với chứng bệnh chảy máu dạ con, ông Hướng chia sẻ có thể dùng củ ngải tím đã phơi khô đem sao chung với ruột gà chữa trị rất hiệu nghiệm. Ông hướng dẫn: “Ruột gà phải còn tươi mới, để nguyên vẹn rồi thái nhỏ cho vào chảo sao cùng củ ngải. Sao đến lúc nào ruột gà hoàn toàn khô thì bỏ đi, chỉ lấy phần củ ngải đem sắc uống, với liều lượng khoảng 15 - 20g mỗi ngày”. Riêng về bài thuốc này, ông Hướng cho hay được người xưa truyền dạy lại, bản thân mình áp dụng rất nhiều lần nhưng không thể lí giải tại sao lại kết hợp ruột gà với củ ngải tím.
Chứng minh công dụng thuốc bằng ngón tay cụt
Khi được hỏi về dẫn chứng tính hiệu nghiệm của những bài thuốc bào chế từ cây ngải tím, ông Hưởng xòe ngay bàn tay mình có một ngón cụt nửa lóng để minh chứng: “Chính nó là bằng chứng rõ ràng nhất”. Năm 1977 ông Hưởng khi đó đang sinh sống ở Quảng Ngãi, một lần đi chặt nứa thì bị cây nứa cắt vào tay. Do chủ quan nên vết thương ngày càng nặng, ngón tay bị nhiễm trùng đến mức phải tháo khớp. Thế nhưng vẫn chưa thoát nạn, lần cuối cùng chẩn trị, bác sĩ bảo phải tháo bỏ cả bàn tay mới an toàn tính mạng. Dễ hiểu cảm giác thất vọng của chàng trai trẻ lúc đó ra sao.
Ngón tay cụt của ông Hướng minh chứng cho tác dụng bài thuốc
Ông bộc bạch bản thân mình rơi vào tâm trạng bế tắc, chán chường suốt mấy tháng liền cho đến ngày trở lại quê hương ăn giỗ ở xã Lộc Bổn (huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế). “Trong đám giỗ có ông thầy lang nổi tiếng ở quê đến dự, nhìn thấy bàn tay tôi ông ngắm nghía rồi bảo đừng buồn nữa, sáng mai sang nhà ông để ông chữa trị. Nghe vậy thôi chứ thâm tâm tôi nghĩ rằng y học hiện đại còn bó tay thì mấy ông lang vườn làm sao chữa khỏi”, ông Hướng mỉm cười nhớ lại.
Thế nhưng “có bệnh thì vái tứ phương”, dù hoài nghi nhưng ngày hôm sau chàng trai vẫn mò sang “thử nghiệm”. Qủa thực như lời cam kết, chưa đầy 3 tuần lễ đắp thuốc từ củ ngải tím, vết thương trên tay khỏi hẳn. Đó cũng là lí do khiến chàng trai trở nên đam mê, quyết định “toàn tâm toàn ý” đi theo nghề thuốc. Vốn là con nhà nòi có truyền thống nghề y, lại chịu khó học hỏi nên chẳng mấy chóc ông Hướng ra nghề và sống bằng nghề thuốc.
Vị lương y trải lòng nguyên cớ sâu xa nhất khiến ông theo nghề thuốc chính là trả ơn cho đời. Ông nói: “Nếu không nhờ ông thầy lang năm xưa, nay tôi đã trở thành người cụt què rồi. Tôi tin rằng ở hiện tại cũng vậy, ở đâu đó vẫn có những người đang bi luỵ vì bệnh tật, bởi vậy tôi muốn đem chút ít khả năng bản thân để cứu người giúp đời như một cách trả ơn”.
Loài cây dân dã, dễ tìm này nhưng lại có công hiệu cực kỳ và dễ chế biến thành bài thuốc. Thế nên mới có chuyện trong đời làm nghề Đông y của ông Hướng, có những cuộc “chữa bệnh” ngay trên đường phố. Ông Hướng có nhiều ký niệm vui, ví dụ có lúc đang đi ăn sáng thì bất ngờ nhìn thấy cảnh một ông lão làm nghề chài lưới bị dính vết thương ở chân gây sưng tấy, lê lết đi vào quán. Ông Hướng đến bắt chuyện và chỉ cho mẹo chữa trị, chưa đầy tuần lễ sau vết thương của ông lão đã hết đau đớn, rồi dần lành hẳn. Lần khác khi đi chơi, nghe tin một cụ bà bị mưng mủ ở bụng, vết thương có dấu hiệu nhiễm trùng nặng nhưng cụ kiên quyết không đi viện do ngại tốn kém, ông Hướng liền ghé thăm và sử dụng “bí kíp” củ ngải tím chữa giúp. “Mọi người cứ yên tâm sử dụng cây ngải tím trị thương, ai có thắc mắc gì hãy gọi điện thoại cho tôi hướng dẫn tỉ mỉ hơn”, lương y Hướng nhiệt tình mở lời trước lúc tiễn khách.
Ngải tím, hay còn gọi Nga truật, là một loại cỏ cao chừng 1 - 1,5m, có thân rễ hình nón, có khía chạy dọc. Củ ngải toả ra theo hình chân vịt, cây mẫm và chắc. Vỏ củ ngải có màu vàng nhạt, lá dài khoảng 30 - 60cm, rộng chừng 7cm, dọc theo gân chính giữa của lá có những đốm màu đỏ. Cây ngải tím thường mọc hoang.

BÀI THUỐC HAY DÂN GIAN - CÂY MÍA

Bài thuốc chữa sổ mũi, nứt môi miệng đơn giản từ cây mía

Ngày Tết nhiều người thường dựng cạnh bàn thờ những cây mía cao, bậm, đỏ, với ý nghĩa tâm linh là cây “lộc”. Nhưng mía còn được mệnh danh “Thang thuốc phục mạch”.

Theo Đông y, mía vị ngọt dưỡng, đại bổ tỳ âm, dưỡng huyết cường gân cốt, an thần trấn kinh tức phong, tả phế nhiệt, lợi yết hầu, hạ đờm hỏa, chi nôn, hòa vị, tiêu phiền nhiệt. Xin giới thiệu một số công dụng chữa bệnh của mía.
Dưỡng âm, nhuận phế: dùng cho người hay ho, nóng rát cổ, giọng nói yếu. Bách hợp 50g, ngâm nước nấu nhừ sau cho nước mía 100ml và nước củ cải 100ml. Uống trước khi đi ngủ.
Chữa chứng phát nóng, miệng khô, cổ ráo, tiểu tiện đỏ sẻn: nhai mía nuốt nước hoặc hòa nước cơm mà uống.
Tư âm, dưỡng vị, chống khát, chống nôn mửa: nước mía 150ml, nước gừng 5 - 10 giọt. Uống từng ngụm một.
Nứt kẽ môi miệng: lấy nước mía bôi ngoài uống trong. Hoặc vỏ mía đốt tồn tính, trộn ít mật ong bôi vào.
Người gầy (hốc hác) da tóc khô: rau má xay 200ml, nước dừa xiêm 1 quả, nước mía 50ml. Có thể thêm mật ong, sữa ong chúa để uống. Uống trước khi đi ngủ.
Chữa người gầy: lấy 1 lít nước mía nấu kỹ với chuối khô (mứt chuối) 200g. Hai thứ nấu sôi, để lửa nhỏ, đập vào 2 quả trứng gà tươi (mới đẻ), ăn nóng. Tuần dùng 3 lần sẽ hiệu quả.
Trẻ em ra mồ hôi trộm: ăn mía, uống nước mía.
Ho, hen do nhiệt, sổ mũi, miệng khô: mía ép giã lấy nước nấu cháo ăn.
Chữa ho gà: mía 3 lóng, rau má 1 nắm, gừng 2 lát. Cho vào 2 bát nước, sắc uống ít một.
Phòng hậu sởi: sắn dây 40g, rau mùi 20g, mía 2 đốt. Dùng 2 bát nước sắc còn 1 bát uống dài ngày trong dịch sởi. Sau sởi: Ép lấy nước mía vỏ đỏ uống.
Giải say rượu: uống nước mía hoặc nhai mía nuốt nước.
Ngộ độc cá nóc: nước mía với nước gừng tươi mỗi thứ một ít (nước mía là chính). Uống để sơ cứu ngay rồi nhanh chóng chuyển bệnh nhân đi bệnh viện cấp cứu kịp thời.
Theo Bs. Phó Thuần Hương - SKĐS

HUYỀN BÍ NGÔI CHÙA MA Ở HUYỆN LÂM HÀ - LÂM ĐỒNG


Ngôi chùa Bửu Sơn tọa lạc trên ngọn Hòn Ông hoang dã thuộc dãy Thổ Sơn, thôn Lạc Sơn, xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, nổi tiếng về những giai thoại ma quái khó lý giải, ai nghe qua cũng rùng mình sởn gáy. Sự ma quái của ngôi sơn tự này nổi tiếng đến mức rất nhiều đoàn khách du lịch quốc tế khi đến Đà Lạt đều đề nghị đến tham quan để thỏa tính hiếu kỳ.

Ít ai biết, ngôi sơn tự này chính là nơi xuất tu của đại đức Thích Thiện Mỹ - Người tự thiêu phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm vào ngày 27/10/1963 tại nhà thờ Đức Bà (Vương Cung Thánh đường) Sài Gòn.
Ngôi chùa “ma khóc” và gốc đa đại thụ
Ông Trần Văn Mến, sinh năm 1940, quê quán Bình Định là Trưởng ban nghi lễ Bửu Sơn tự suốt hơn 30 năm nay cho biết, nơi đây cách thành phố Đà Lạt khoảng 70 km. Hồi đầu thế kỷ XX, ngọn núi Ông nằm lọt thỏm giữa vùng hoang vu heo hút. Năm 1930, chính quyền thực dân Pháp khởi công xây tuyến đường xuyên dãy núi Thổ Sơn nối liền Đà Lạt với Buôn Ma Thuột (nay là quốc lộ 27 Liên Khương - Buôn Ma Thuột) dài 192 km.
Ngoài nhiệm vụ thông thương, tuyến đường này còn có nhiệm vụ mở cánh cửa kinh tế cho những địa chủ Pháp và địa chủ Việt thân Pháp tiến vào dãy Thổ Sơn chiếm đất xây dựng đồn điền cà phê, chuối và cà na. Nơi đây trở thành quê hương của giống chuối La Ba trứ danh, đặc sản tiến vua của tỉnh Đồng Nai Thượng (thời điểm đó, vùng đất này còn thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng).
Để có nhân công phục vụ cho đồn điền, các địa chủ về các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên tuyển phu. Những cư dân đầu tiên này đã lập nên làng Lạc Sơn, huyện D'ran, tỉnh Tuyên Đức. Ngày nay, làng Lạc Sơn trở thành thôn Lạc Sơn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Vùng đất mới đầy sơn lam chướng khí và thú dữ, người dân cần có chỗ dựa tinh thần để tồn tại. Hàng ngày, sau những buổi lao động cực nhọc, họ thường quây quần với nhau tại nhà một người có tục danh là Xã Huệ cầu xin Phật tổ che chở, hộ độ.
Theo những giai thoại truyền miệng từ những bậc cao niên của địa phương thì, thời điểm đó có nhiều chuyện ly kỳ xảy ra tại một gốc đa đại thụ mọc ở một góc đỉnh Hòn Ông. Không ai biết gốc đa này bao nhiêu tuổi, chỉ biết rằng chu vi gốc lớn hơn 3 vòng tay người ôm. Từ tán cây sum suê của gốc đa đại thụ, vào ban đêm, người ta thường nghe tiếng người than khóc thê lương vẳng ra(?). Sự việc xảy ra liên tiếp nhiều đêm khiến dân làng hoảng sợ không dám ra khỏi nhà vào ban đêm.
Cổng chính Bửu Sơn Tự.
Sau nhiều ngày, vào một đêm trừ tịch những trai tráng khỏe mạnh và can đảm tình nguyện tiếp cận gốc đa để tìm hiểu thực hư. Khi họ tiến gần gốc đa thì tiếng than khóc im bặt. Khi rời đi thì tiếng khóc lại vang lên.
Qua ánh đèn soi, họ chỉ thấy một đàn chim kền kền có sải cánh dài hơn 1 mét đậu trên ngọn cây. Nghĩ rằng những "oan hồn" không siêu thoát hóa thành loài chim ăn xác chết, dân làng cùng nhau lập một ngôi am dưới gốc đa. Từ đó, không ai còn nghe thấy tiếng khóc than nữa. Vào năm 1944, dân làng thỉnh tượng Phật tổ về ngự dưới gốc đa để làm nơi cầu kinh, đảnh lễ.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các chủ đồn điền bỏ lại đất đai, trở về nước. Trước khi tháo chạy, ông chủ đồn điền Pháp còn kịp bán trọn vùng đất trên ngọn Hòn Ông cho ông Đặng Văn Lợi.
Thấy ngôi am thờ Phật quá nhỏ, không đủ chỗ cho dân làng cầu kinh, ông Lợi hiến phần đất cho dân làng cất ngôi chùa khang trang hơn. Ngôi chùa mái tranh vách ván được dân làng hùn vốn góp công xây dựng. Sau khi xây chùa xong, họ đặt tên chùa là Bửu Sơn tự và thỉnh sa di Thích Tâm Hòa về trụ trì chùa. Giai đoạn này thôn Lạc Sơn thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Tuyên Đức.
Năm 1957, sa di Thích Tâm Hòa về Sài Gòn học mỹ thuật và đông y. Sư Thích Thiện Phước được Giáo hội cử về trụ trì chùa Bửu Sơn. Nhận thấy gốc đa âm u lại xa đường lộ, bất tiện cho tín đồ, Sư Thiện Phước dời ngôi chùa lên đỉnh Hòn Ông cất mới thành mái tole, vách ván (hiện trạng ngày nay). Kể từ ngày chùa dời đi, hàng đêm gốc đa lại phát ra tiếng ma rên quỉ khóc (?).
Giai đoạn này, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa quân lên xây dựng một căn cứ pháo DK trên ngọn đồi đối diện Hòn Ông để ngày đêm bắn vào vùng căn cứ kháng chiến của ta. Chính thời gian này, sư Thích Thiện Mỹ (tục danh là Huỳnh Miều) đến chùa Bửu Sơn phát tâm khấn nguyện hiến thân xác cho đạo pháp.
Ông Trần Văn Mến nhớ lại trong thời gian đó ngôi chùa thường xuyên xảy ra hiện tượng ma lộng (?).
Ông kể: "Chúng tôi khép cửa đọc kinh. Có một con cọp trắng rất lớn thường vô làng bắt gia súc của dân. Có lần, sau khi cầu kinh xong, khi ra sân chánh điện mọi người tá hỏa phát hiện dấu nằm phủ phục của một con cọp rất lớn. Cọp nằm "nghe kinh", in dấu ngoảy đuôi dưới mặt đất thành hình rẻ quạt lớn hơn sải tay, nước dãi đọng thành vũng. Sau đó cọp biến mất.
Cọp biến mất thì đến lượt bầy mãng xà to lớn khác thường về chùa. Cứ đến giờ đọc kinh tối là bầy mãng xà xuất hiện nằm rải rác trước sân chùa. Cho đến tận bây giờ, thỉnh thoảng người dân làm rẫy ngang gốc đa cổ thụ vẫn trông thấy những con mãng xà có thân mình to bằng bắp tay.
Ngọn lửa tự thiêu
Trước sự đàn áp ngày càng tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo, ngày 11/6/1963, Bồ tát Thích Quảng Đức đã xả thân tự thiêu để phản đối và tố cáo chính quyền với dư luận quốc tế.
Cùng thời điểm đó, tín đồ ở Bửu Sơn tự trông thấy một vị sư trẻ có thế danh là Huỳnh Miều đến chùa tụng niệm ngày đêm. Khoảng đầu tháng 10, người ta không còn thấy vị sư trẻ ở chùa nữa. Bất ngờ ngày 27/10/1963, qua một loạt tin tức trên đài truyền hình, truyền thanh và báo chí, người ta mới biết vị sư trẻ ấy là Đại đức Thích Thiện Mỹ đã tự thiêu tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn trước sự chứng kiến của phái đoàn Liên Hiệp Quốc.
Đại đức Thích Thiện Mỹ, sinh năm 1940 tại Bình Định trong một gia đình Phật tử sùng đạo. 16 tuổi, ngài thọ giới sa di và học đạo tại Long Khánh, Quy Nhơn. Năm 1960, ngài thọ đại giới ở chùa Bửu Tích (Bình Thuận). Sau khi thọ đại giới, ngài bắt đầu du phương hành đạo ở khắp các chùa và dừng chân tại Bửu Sơn tự tu học vào đầu năm 1963.
Lúc này tại Sài Gòn, phong trào Phật giáo đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm rất sục sôi. Những vị sư liên tục hiến thân tử vì đạo như Nguyên Hương, Thanh Tuệ, Quảng Hương, Quảng Đức, Tiêu Diêu… đã đánh động lương tâm nhân loại.
Hàng loạt báo chí quốc tế lên án nhưng Ngô Đình Diệm vẫn ngoan cố tuyên bố triệt tiêu Phật giáo thông qua lời phát biểu của bà Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu): "Sẵn sàng cung cấp dầu cho các nhà sư tự thiêu". Thậm chí bà Xuân còn biếm nhẻ (nhạo báng) gọi các nhà sư tự thiêu là "món thầy chùa nướng".
Di ảnh sư Thích Thiện Mỹ đang được thờ tại Bửu Sơn Tự.
Bất nhẫn cùng cực, đầu tháng 7/1963, tham gia cuộc tuyệt thực trước dinh tỉnh trưởng Tuyên Đức (Đà Lạt), Đại đức Thích Thiện Mỹ đã tự chặt một ngón tay trỏ để bày tỏ quyết tâm phản kháng chính quyền Ngô Đình Diệm.
Trước tình hình sục sôi đó, Phật giáo quốc tế lên tiếng thúc giục Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc mở cuộc điều tra đối với chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngày 7/10/1963, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc mở cuộc họp bất thường tại New York để tổ chức một phái đoàn điều tra gồm 7 người sẽ đến Sài Gòn điều tra vào ngày 24/10/1963.
Biết được tin đó, mặc dù vết thương nơi ngón tay chưa lành, vẫn còn rỉ máu song Đại đức Thích Thiện Mỹ vẫn rời chùa Bửu Sơn về Sài Gòn ẩn trú tại chùa Vạn Thọ (Tân Định). Thời gian này, ngài viết sẵn 4 bức thư tuyệt mạng đồng gởi cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, Hội chủ Phật giáo Thích Tịnh Khiết, ông U-Thant (Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc) và gửi chung cho toàn thể tín đồ Việt Nam. Nội dung bức thư nêu rõ lý do hỏa thiêu tuẫn tiết là đấu tranh lên án hành vi đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Ngày 27/10/1963, Đại đức Thích Thiện Mỹ đã mua xăng dự định sẽ tự thiêu trước chùa Ấn Quang để phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc đang thực thi nhiệm vụ điều tra tại đó tận mắt chứng kiến. Lúc đó, lực lượng cảnh sát chìm nổi đã bao quanh khu vực chùa Ấn Quang quyết liệt ngăn chặn tất cả những ai có vẻ là nhà sư tiến đến chùa. Đại đức Thích Thiện Mỹ đành chuyển hướng về nhà thờ Đức Bà.
Lúc 10 giờ 30 phút sáng cùng ngày, Đại đức Thích Thiện Mỹ tự tẩm xăng rồi xếp chân kiết già ngồi trước tượng Đức Mẹ châm lửa.
Ngọn lửa bùng cháy trước sự chứng kiến của hàng ngàn người dân và hàng chục phóng viên quốc tế. Lực lượng cảnh sát phát hiện đã dùng mền trùm lấy ngọn lửa khiến ngài ngã xuống. Ngay sau đó, ngài bật dậy tiếp tục ngồi trong tư thế kiết già. Chiếc mền cháy rụi.
Hàng ngàn Phật tử bao quanh ngọn lửa quỳ lạy. Tiếng cầu kinh hòa lẫn tiếng khóc bi ai của hàng ngàn người khiến một góc Sài Gòn ảm đạm.
Không dám để hình ảnh sư tự thiêu lọt vào mắt phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc, một đại đội cảnh sát nhận lệnh trực tiếp từ Ngô Đình Nhu kéo đến hiện trường cướp thi thể Thích Thiện Mỹ đưa đi.
Nghe tin, 4 vị điều tra viên trong phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã đến tận nơi và chứng kiến được cảnh sát điều động xe chữa cháy đang xịt nước rửa vết nám trên mặt đường hòng xóa dấu tích vụ tự thiêu. Vụ tự thiêu của Đại đức Thích Thiện Mỹ là vụ tự thiêu thứ 8 và cuối cùng, 4 ngày sau chính quyền Diệm bị lật đổ.
Có thể nói, vụ tự thiêu của Đại đức Thích Thiện Mỹ là giọt dầu khiến cây đuốc sống của Thích Quảng Đức tràn ra cháy lan đến tận bàn nghị sự Liên Hiệp Quốc và Quốc hội Mỹ. Đó là nguyên nhân khiến Mỹ muốn hạ bệ Ngô Đình Diệm bằng cuộc đảo chính quân sự vào ngày 1/11/1963.
Khi đó, Đại đức Thích Thiện Mỹ vừa tròn 23 tuổi.
Hiện tại, bức di ảnh của Đại đức Thích Thiện Mỹ được đặt trang trọng bên cạnh di ảnh những vị sư tổ khai sáng chùa trên bàn thờ tiền hiền của Bửu Sơn tự.
Sư Thích Minh Châu - Người có công kiến tạo cảnh quang Bửu Sơn Tự thành điểm du lịch hành hương.
Ông Mến cho biết thêm, ngay sau khi sư Thích Thiện Mỹ thực hiện vụ tự thiêu ở Sài Gòn, Ngô Đình Nhu ra lệnh cho mật vụ Tuyên Đức thực hiện một kế hoạch "giải độc". Ông ta muốn tạo chứng cứ giả để vu cáo "Việt Cộng xúi giục sư tự thiêu". Một nhóm mật vụ được cử đến chùa bí mật nhét mấy quả lựu đạn vào tủ chứa kinh Phật để tạo chứng cứ giả.
Đồng thời, một toán cảnh sát vũ trang được tập họp ở huyện Đức Trọng chuẩn bị đánh úp vào chùa. Tuy nhiên, như có linh tính, ngay ngày hôm sau những người trong ban nghi lễ bỗng dưng lục kinh sách ra đọc, đã phát hiện ra những quả lựu đạn. Bọn mật vụ tạm ngừng cuộc đột kích chuẩn bị kế hoạch mới. Kế hoạch mới chưa kịp thực hiện thì chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ.
Năm 1995, sư Thích Minh Châu về trụ trì chùa đã nâng cấp ngôi chùa thành một khuôn viên vừa thanh tịnh hương Phật, vừa tao nhã cảnh quan để khách thập phương đến chiêm ngưỡng, vọng bái. Bửu Sơn tự trở thành một địa chỉ du lịch tâm linh không thể thiếu trong các tua du lịch của xứ sở sương mù Đà Lạt.

Theo Nông Huyền Sơn - ANTG